Công nghiệp concert Việt Nam: Đã đến lúc tính chuyện đường dài
Sức hút của những đại nhạc hội quy mô lớn đang mở ra cơ hội phát triển cho thị trường biểu diễn Việt Nam. Tuy nhiên, lượng khán giả đông đảo và doanh thu ấn tượng chưa đủ để tạo nên một nền công nghiệp concert bền vững. Bài toán đặt ra lúc này là xây dựng hệ sinh thái chuyên nghiệp, có sản phẩm mang bản sắc riêng, cơ chế vận hành minh bạch và khả năng tạo giá trị kinh tế lâu dài.
Concert bùng nổ, nhưng đã hình thành một ngành công nghiệp?
Thị trường concert Việt Nam đang chứng kiến sự chuyển động mạnh mẽ khi các đại nhạc hội thu hút hàng chục nghìn khán giả, sân khấu được đầu tư công phu, công nghệ trình diễn ngày càng hiện đại, trong khi người hâm mộ sẵn sàng chi trả để có những trải nghiệm trực tiếp cùng nghệ sĩ. Concert đang dần trở thành một phần đáng chú ý trong đời sống giải trí, đồng thời mở ra cơ hội kinh doanh cho nhiều lĩnh vực liên quan.
Theo báo cáo thường niên của Trung tâm Triển lãm Việt Nam, năm 2025, V Concert và V-Fest mỗi chương trình thu hút hơn 25.000 lượt người, trong khi 8Wonder đạt hơn 50.000 lượt. Sức hút của các chương trình này cho thấy thị trường trong nước có khả năng tiếp nhận những sự kiện âm nhạc quy mô lớn, tạo cơ sở để các nhà tổ chức tiếp tục đầu tư vào sản phẩm biểu diễn.

Concert “Anh trai say hi” thu hút hàng vạn khán giả với dàn nghệ sĩ tài năng. Ảnh: VieON
Tại hội thảo “Công nghiệp concert và giải trí: Từ bùng nổ đến bền vững” vừa diễn ra tại Hà Nội, nhiều chuyên gia đã đặt vấn đề về khoảng cách giữa sự sôi động của thị trường và năng lực phát triển của một ngành công nghiệp thực thụ.
Theo chuyên gia truyền thông Lê Quốc Vinh - Chủ tịch Le Group of Companies, để chuyển sức hút của những đêm diễn thành một ngành công nghiệp chuyên nghiệp, cần đồng thời xây dựng thị trường khán giả lâu dài, mô hình kinh doanh khả thi và năng lực sáng tạo, sản xuất, vận hành đáng tin cậy. Ông cho rằng, có hai câu hỏi cần được trả lời, đó là: Làm thế nào để sự quan tâm của khán giả trở thành nhu cầu lâu dài và thành công của một chương trình trở thành nền tảng cho hoạt động kinh doanh có thể tiếp tục đầu tư, phát triển? Cần tổ chức công việc và phối hợp các bên như thế nào để tạo ra những concert có bản sắc, chất lượng ổn định, an toàn và đủ năng lực phát triển ở quy mô lớn hơn?
Những “điểm nghẽn” phía sau ánh đèn sân khấu
Tại hội thảo, các diễn giả đã chỉ ra những “điểm nghẽn” cốt lõi đang kìm hãm sự bứt phá của ngành công nghiệp biểu diễn. Một trong những rào cản lớn nhất được đạo diễn Phạm Hoàng Nam nhấn mạnh là sự thiếu hụt trầm trọng hạ tầng biểu diễn đồng bộ. Theo ông, Việt Nam hiện vẫn thiếu các trung tâm biểu diễn và sân vận động đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đáng nói hơn, nguy cơ ý tưởng sáng tạo bị sao chép đang làm giảm sút nghiêm trọng động lực đầu tư vào các sản phẩm mới.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chuyên nghiệp cũng là một điểm nghẽn đáng lo ngại. Nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc Dương Cầm nhận định, các ê-kíp sản xuất chuyên nghiệp thực chất mới chỉ hình thành trong những năm gần đây. Dù một số vị trí như quản lý sân khấu, kỹ thuật hiện trường, giám sát an toàn hay kỹ sư âm thanh, ánh sáng đã được chú trọng hơn, nhưng lực lượng này nhìn chung vẫn chưa được đào tạo bài bản và đồng đều.

Chương trình giải trí “Tinh hà say hi” vừa có 2 đêm diễn thành công tại TP HCM. Ảnh: BTC
Nhìn rộng ra, điểm nghẽn còn nằm sâu ở tư duy sản phẩm. Theo ông Lê Quốc Vinh, nhiều chương trình hiện nay vẫn phụ thuộc đáng kể vào các format nhập khẩu hoặc nghệ sĩ quốc tế, trong khi những sản phẩm mang đậm bản sắc Việt Nam, đủ sức tiếp cận thị trường toàn cầu vẫn còn rất hiếm hoi.
Tất cả những vấn đề này cho thấy phía sau sự thăng hoa của mỗi concert là cả một chuỗi cung ứng phức tạp bao gồm thiết bị, nhân lực, hậu cần, tài chính và bản quyền. Nếu các mắt xích ấy thiếu đi sự chuyên nghiệp và minh bạch, thành công của từng chương trình riêng lẻ sẽ khó lòng chuyển hóa thành năng lực phát triển ổn định và bền vững.
Xây dựng hệ sinh thái, tạo giá trị sau mỗi concert
Để concert thực sự trở thành động lực kinh tế mạnh mẽ, các chuyên gia đề xuất nhiều giải pháp đồng bộ nhằm tối ưu hóa giá trị của ngành công nghiệp biểu diễn. Dưới góc độ đo lường và định hướng, đạo diễn Việt Tú cho rằng cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá dựa trên kinh nghiệm quốc tế, có điều chỉnh cho phù hợp với Việt Nam. Thay vì chỉ nhìn vào số lượng chương trình, lượng khán giả hay doanh thu bán vé, bộ chỉ số này cần tính đến hiệu quả đầu tư, khả năng thu hút nghệ sĩ quốc tế, mức chi tiêu của công chúng và tác động lan tỏa tới các ngành dịch vụ.
Đồng quan điểm, đạo diễn Phạm Hoàng Nam nhấn mạnh yêu cầu cốt lõi là phải xác định rõ sản phẩm chủ lực và đo lường chính xác đóng góp thực chất của công nghiệp văn hóa, thay vì sa đà vào việc xây dựng công trình hay tổ chức các sự kiện quy mô lớn mang tính bề nổi.
Một hướng đi chiến lược được tập trung thảo luận là kết nối concert với du lịch nhằm khai thác tối đa kinh tế trải nghiệm. Theo TS. Vladimir Antchak - Trưởng Bộ môn Concert và Giải trí Đại học Anh Quốc tại Việt Nam, dù sở hữu tiềm năng rất lớn nhờ sức hấp dẫn tự nhiên với du khách quốc tế, nhưng Việt Nam mới chỉ làm tốt ở “nền kinh tế chú ý” nhờ thu hút sự quan tâm ban đầu mà chưa phát triển tương xứng ở “kinh tế cảm xúc”. Theo ông, thực tế cho thấy tỷ lệ du khách quay lại sử dụng dịch vụ biểu diễn và ẩm thực tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 30-35%, trong khi con số này ở Thái Lan lên tới 80%. Chính vì vậy, giá trị của một concert không thể chỉ dừng lại ở thời điểm màn diễn khép lại.
Cụ thể hóa định hướng này, NSND Trần Ly Ly - Chủ tịch Hội đồng trường Học viện Múa Việt Nam đề xuất gắn kết nghệ thuật biểu diễn với chuỗi cung ứng dịch vụ gồm lưu trú, ẩm thực, mua sắm, giao thông và các hoạt động trải nghiệm. Việc quy hoạch theo từng vùng văn hóa dựa trên nền tảng di sản, con người và bản sắc địa phương - như vùng chèo Bắc Bộ hay không gian văn hóa Tây Nguyên - sẽ tạo ra chất liệu khác biệt khi kết hợp với tư duy dàn dựng hiện đại. Muốn hiện thực hóa mô hình này, chính quyền, nhà tổ chức, nhà đầu tư, đơn vị lữ hành và doanh nghiệp dịch vụ phải bắt tay xây dựng một chuỗi trải nghiệm hoàn chỉnh thay vì hoạt động riêng lẻ.
Ở góc độ thu hút khách quốc tế, đạo diễn Việt Tú nhấn mạnh mục tiêu trước mắt là biến Việt Nam thành điểm đến thường xuyên của các ngôi sao toàn cầu. Để làm được điều đó, bên cạnh hạ tầng đạt chuẩn, chính sách linh hoạt và sức mua thị trường đủ lớn, ngành biểu diễn rất cần các hợp đồng minh bạch, cơ chế thanh toán và phân chia quyền lợi rõ ràng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Bên cạnh đó, song song với các đại dự án, nhạc sĩ Dương Cầm lưu ý tầm quan trọng của việc duy trì hệ thống sân khấu vừa và nhỏ quy mô dưới 5.000 khán giả, nhằm giữ nhịp hoạt động biểu diễn thường xuyên và tiếp cận đa dạng các nhóm công chúng.
Xét về dài hạn, ngành công nghiệp concert không thể phụ thuộc mãi vào việc gia tăng số lượng đại nhạc hội hay chạy đua mời nghệ sĩ quốc tế, mà thách thức lớn hơn là tạo ra các sản phẩm gắn liền với bản sắc Việt Nam có thị trường ổn định và năng lực cạnh tranh toàn cầu. Theo định hướng này, các diễn giả cho rằng, công nghiệp văn hóa phải tiến tới khả năng phát triển, đóng gói và xuất khẩu sản phẩm. Điều đó đòi hỏi thị trường phải chú trọng nghiên cứu khán giả, đầu tư sâu cho nội dung sáng tạo, bảo vệ bản quyền nghiêm ngặt và tích cực xây dựng thương hiệu. Đồng thời, sản phẩm cần khai thác đa dạng qua nhiều hình thức, từ biểu diễn trực tiếp đến sản phẩm thương mại, nội dung số và trải nghiệm văn hóa du lịch.




In bài viết
