Ngành thủy sản Việt và mục tiêu phát triển xanh, minh bạch, có trách nhiệm
“Trong năm 2026 và kế hoạch phát triển lâu dài, ngành thủy sản Việt phải đặt mục tiêu phát triển xanh, minh bạch và có trách nhiệm” - đó là trao đổi của ông Trần Đình Luân - Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) với PV Báo PLVN về mục tiêu phát triển ngành thủy sản và nhiệm vụ trọng tâm gỡ “thẻ vàng” IUU trong năm 2026.
Năm 2025, ngành thủy sản đã về đích ấn tượng khi xuất khẩu đạt mốc kỷ lục 11,3 tỷ USD. Vậy trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản tiếp tục duy trì đà tăng trưởng như thế nào, thưa ông?
- Trong năm 2025, ngành thủy sản thiết lập kỷ lục mới về xuất khẩu đạt 11,3 tỷ USD. Hết tháng 8/2026 ước đạt 1,08 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản 8 tháng năm 2026 đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, ba thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiêu thụ hàng thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần lần lượt là 24%, 15,6% và 13,7%. Nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu thủy sản tăng mạnh nhất ở thị trường Brazil với mức tăng 39,1% và giảm mạnh nhất ở thị trường Đức với mức giảm 0,2%.
Năm 2026, toàn ngành đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu có thể đạt trên 12,5 tỷ USD (tăng trưởng trên 12%) nếu nhiều rào cản tại thị trường Hoa Kỳ được tháo gỡ hoặc chính sách thuế có sự thay đổi thuận lợi. Nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng, ngành còn xây dựng một kịch bản khác, đó là kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2026 dự kiến đạt 12,1 - 12,3 tỷ USD (với kịch bản này, kim ngạch dự kiến tăng khoảng 8 - 10% so với năm 2025). Mức tăng trưởng này dựa trên thị trường Trung Quốc tiếp tục ổn định, Nhật Bản và các nước CPTPP cũng như Hoa Kỳ, EU không giảm quá mạnh.
Đối với từng ngành hàng, tôm tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ lực, song cũng là mặt hàng chịu áp lực cạnh tranh lớn nhất. Cá tra được đánh giá có triển vọng tích cực hơn khi nguồn cung cá khai thác tự nhiên trên thế giới giảm, chi phí khai thác tăng, thúc đẩy các nhà nhập khẩu tìm kiếm nguồn cá nuôi thay thế như cá tra, cá rô phi. Ngoài ra, cua, ghẹ và tôm hùm vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc.
Gỡ “thẻ vàng” IUU cho ngành thủy sản trong thời gian sớm nhất luôn là mục tiêu của cả hệ thống chính trị trong nhiều năm qua. Xin ông chia sẻ những nhiệm vụ trọng tâm về công tác này trong thời gian tới?
- Tôi có thể khẳng định: “Chưa bao giờ công tác này nhận được sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị như hiện nay. Và đây là quyết tâm của cả hệ thống chính trị chứ không chỉ riêng ngành thủy sản.
Trong tháng 8/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã ban hành Quyết định số 1516/QĐ-TTg ngày 10/8/2026 về Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của Ủy ban Châu Âu (EC) tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác IUU. Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm tạo chuyển biến căn bản trong quản lý nghề cá, ngăn chặn và tiến tới chấm dứt khai thác IUU, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, dữ liệu và bằng chứng thực thi để làm việc với EC, quyết tâm gỡ cảnh báo “thẻ vàng” trong năm 2026.
Mới đây tại Gia Lai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đã phối hợp với UBND tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch hành động thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của EC về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Theo Kế hoạch hành động, có 46 nhiệm vụ được giao cho các Bộ, ngành và địa phương. Các nhiệm vụ tập trung vào những nội dung trọng tâm như truy xuất nguồn gốc, theo dõi, giám sát đội tàu, thực thi pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý và quản lý đội tàu.
Trong “Tháng cao điểm” chống khai thác IUU, diễn ra từ ngày 15/8 đến ngày 15/9/2026, các địa phương phải tập trung kiểm soát tàu cá không đủ điều kiện hoạt động; kiểm soát chặt chẽ tàu cá xuất, nhập bến; cập nhật đầy đủ dữ liệu chuyến biển trên hệ thống eCDT; quản lý truy xuất nguồn gốc tại doanh nghiệp; cập nhật thông tin trên hệ thống cảnh báo VMS; xử lý các trường hợp vi phạm VMS trong thời hạn 60 ngày; ngăn chặn, xử lý tàu cá bị nước ngoài bắt giữ; thực hiện chế độ báo cáo hằng tuần; tăng cường kiểm tra, giám sát và xây dựng kế hoạch hành động cụ thể.
Đối với quản lý đội tàu, yêu cầu đặt ra là phải lập danh sách tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, phân công theo dõi cụ thể từng tàu; kiên quyết không cho tàu chưa đủ điều kiện xuất, nhập bến và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm. Việc kiểm soát tàu cá xuất, nhập bến phải được thực hiện đầy đủ, trong đó cảng cá và lực lượng Biên phòng kiểm soát 100% lượt tàu qua hệ thống eCDT; chỉ những tàu cá có thông tin trên VNFishbase và thực hiện khai báo trên eCDT mới được xuất, nhập bến.
Cùng với đó, công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản được xác định là nhiệm vụ then chốt. Các chuyến biển phải thực hiện ghi, nộp nhật ký khai thác đầy đủ; sản lượng bốc dỡ và các hồ sơ liên quan phải được cập nhật trên eCDT để phục vụ đối chiếu, kiểm soát.
Kế hoạch hành động của Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu tăng cường chuyển đổi số, kết nối và chia sẻ dữ liệu trong quản lý nghề cá, liên thông VNFishbase, VMS, eCDT, cơ sở dữ liệu xử phạt, dữ liệu hải quan và dữ liệu kiểm soát xuất, nhập bến, hướng tới nguyên tắc “một tàu cá, một mã định danh, một hồ sơ điện tử thống nhất”. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, tăng tính minh bạch, khả năng truy xuất và kiểm chứng trong toàn bộ quá trình khai thác, thu mua, chế biến và xuất khẩu thủy sản.
Kết thúc tháng cao điểm chống khai thác IUU, các Bộ, ban, ngành, địa phương phải tạo ra 5 chuyển biến về các nhiệm vụ: Quản lý đội tàu, bảo đảm dữ liệu đăng ký, đăng kiểm, giấy phép được đồng bộ trên các cơ sở dữ liệu; bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm thủy sản; xử lý dứt điểm vi phạm mất kết nối VMS và ngăn chặn, tiến tới chấm dứt tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài…
Các địa phương phải quyết liệt triển khai thực hiện các nhiệm vụ, không để phát sinh khoảng trống trách nhiệm và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả thực hiện nhiệm vụ. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ theo dõi sát tiến độ, tổng hợp các khó khăn, “điểm nghẽn”, chủ động kiểm tra các địa phương còn nhiều tồn tại để tháo gỡ các vướng mắc.
Mặc dù đạt được kết quả quan trọng nhưng ngành thủy sản vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức. Ông có cho rằng, phát triển bền vững, minh bạch và có trách nhiệm với môi trường mới chính là “kim chỉ nam” của ngành thủy sản Việt hay không?
- Một điểm sáng nổi bật trong vài năm trở lại đây, đặc biệt là năm 2025 đó là khả năng thích ứng nhanh và linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản. Khi thị trường Hoa Kỳ biến động mạnh, các doanh nghiệp thủy sản đã kịp thời “xoay trục” sang các thị trường tiềm năng khác như: Trung Quốc, châu Âu và châu Phi.
Bên cạnh đó, các rào cản thương mại, thuế quan và kỹ thuật ngày càng gia tăng, trong khi chi phí sản xuất, yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, dịch bệnh và lao động tiếp tục gây áp lực lớn cho doanh nghiệp. Ở trong nước, thiên tai, bão lũ và thời tiết cực đoan đã tác động mạnh đến hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến và logistics của toàn ngành.
Tuy vậy, trong năm 2026, ngành thủy sản Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì tâm thế chủ động thích ứng và phát triển bền vững sau một giai đoạn tái cơ cấu mạnh mẽ từ sản xuất đến thị trường. Và trọng tâm không chỉ là tăng trưởng kim ngạch, mà còn là phát triển xanh, minh bạch, có trách nhiệm với môi trường, nguồn lợi và cộng đồng ngư dân...
Trân trọng cảm ơn ông!
“8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu, ngành thủy sản cần phải tiếp tục đa dạng thị trường, nâng cao sức cạnh tranh và chủ động thích ứng với những biến động thương mại trong những tháng cuối năm”.





In bài viết
