Quyền tiếp cận di sản: Cần khung pháp lý rõ ràng thay vì để doanh nghiệp “tự bơi”
Nghị quyết 80 đặt mục tiêu biến di sản thành tài sản, hình thành mô hình di sản dẫn dắt phát triển kinh tế, nhưng hành trình này vẫn còn nhiều rào cản khi các doanh nghiệp văn hóa sáng tạo đang phải “tự bơi”. Làm thế nào để di sản không chỉ là báu vật trong lồng kính mà trở thành động lực tăng trưởng kinh tế bền vững? Câu trả lời nằm ở việc xây dựng một hệ sinh thái di sản hoàn chỉnh, nơi doanh nghiệp không còn phải đơn độc đàm phán hay đối mặt với nguy cơ bị cáo buộc xâm phạm di sản, xâm phạm quyền lợi cộng đồng.
Câu chuyện truyền cảm hứng từ AnnGroup
Tại buổi tọa đàm “Khơi dậy tiềm năng sở hữu trí tuệ trong kinh tế di sản” tại Hà Nội mới đây, bà Dư Thị Mai Linh, Giám đốc Chiến lược Công ty AnnGroup kể một câu chuyện nhỏ nhưng để lại ấn tượng lớn: Vài năm trước, tại khu vực bán đồ chơi ở chân núi Yên Tử, bà đã chứng kiến một em bé khoảng 5-6 tuổi níu tay mẹ nói: “Mẹ ơi, con muốn mang một thứ gì đó ở Yên Tử về nhà”.
Người mẹ nhìn quanh, bà Mai Linh cũng nhìn quanh. Nhưng không có gì ngoài vài món đồ chơi bằng nhựa sản xuất hàng loạt, không gắn liền với Yên Tử và không có câu chuyện. Cuối cùng bà mẹ đành mua cho con một gói bánh.
“Tôi nhớ mãi ánh mắt của em bé ấy lúc đó, không phải là buồn, mà là ánh mắt của một đứa bé không có gì để giữ và nhớ về. Lúc đó, tôi nghĩ là chúng ta đang có một di sản tâm linh thiêng liêng nhất nhưng chúng ta không có cách nào để một đứa trẻ mang Yên Tử về nhà, không có cách nào để bạn ấy kể cho bạn bè về rừng tùng, về nơi mình đã đến… Với tôi, đó không phải là khoảng trống của sản phẩm, đó là khoảng trống của ký ức. Và ký ức, nếu không có vật phẩm, sẽ phai đi rất nhanh”, bà Mai Linh nói.
Vẫn theo bà Mai Linh, chỉ mới đây thôi, trong sự kiện A50 năm 2025, cả dân tộc cùng chung một cảm xúc, cùng muốn được tham dự, muốn được có mặt trong những thời khắc lịch sử. Nhưng qua quan sát thị trường, AnnGroup thấy hầu như không có một sản phẩm nào xứng tầm với cảm xúc của người dân cả về mẫu mã lẫn chất lượng. “Chúng tôi tự hỏi một câu rất đơn giản, nếu một người dân bình thường, họ muốn bày tỏ lòng tự hào dân tộc trong ngày 30/4/2025 thì họ có gì để cầm trong tay? Câu trả lời là không nhiều”.

Đồng bào Mông xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ đưa di sản vẽ sáp ong trên vải ứng dụng vào các sản phẩm trang phục hiện đại. Ảnh: Tiến Toàn.
Từ những trăn trở đó, AnnGroup đã cố gắng lấp lại những “khoảng trống” bằng cách biến những giá trị vô hình thành những thứ mà người Việt Nam có thể cầm trong tay, có thể sở hữu và tự hào. Đơn vị thiết lập một quy trình biến di sản thành tài sản gồm 4 bước: Đầu tiên là tìm hạt nhân của di sản - đó là những biểu tượng, câu chuyện hoặc cảm xúc cốt lõi. Bước hai là thiết kế sáng tạo gắn với đăng ký sở hữu trí tuệ ngay từ đầu để không phát sinh tranh chấp. Bước ba là phát triển hệ sinh thái sản phẩm với nguyên tắc một IP, nhiều vật phẩm, phù hợp với nhiều nhóm đối tượng. Cuối cùng là tạo hệ sinh thái tiêu thụ sản phẩm đa dạng, tận dụng thời điểm cảm xúc của du khách để bán hàng.
Từ quy trình này, AnnGroup đã cho ra đời nhiều sản phẩm như linh vật voi tại Yên Tử, nhân vật Lạc Lạc lấy cảm hứng từ hình ảnh trên trống đồng Đông Sơn, sản phẩm học đường lấy cảm hứng từ sự hiếu học và hình ảnh rùa đội bia gắn với Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay các vật phẩm yêu nước dành cho sự kiện A80…

Dự án khôi phục kỹ thuật dệt vải “Tằm hục màn” của đồng bào Thái ở bản Hoa Tiến, tỉnh Nghệ An là sản phẩm đồng sáng tạo giữa nghệ nhân bản địa và nhà thiết kế bên ngoài cộng đồng. Ảnh: Tiến Toàn.
Ai cho phép khai thác di sản?
Tuy nhiên, AnnGroup cũng như hàng nghìn doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa sáng tạo tại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều rào cản. Bà Mai Linh kể rằng, khi AnnGroup đến Yên Tử để thuyết phục Ban quản lý di tích hợp tác thì nhận ngay một câu hỏi: “các anh chị có định thương mại hóa chùa hay không?”. Đây là rào cản tâm lý lớn nhất vì trong tâm lý của nhiều người, họ nghĩ “thương mại hóa” đồng nghĩa với “bán rẻ di sản”. Người ta có lý do để lo lắng vì đã từng có những trường hợp khai thác di sản một cách thô bạo, biến nơi linh thiêng thành chợ.
Đồng quan điểm, ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn truyền thông Lê chia sẻ, khi nói đến chuyện khai thác di sản, luôn luôn có sự e ngại không chỉ từ phía các nhà quản lý, mà kể cả thị trường. “Công chúng sẽ đặt câu hỏi rằng việc khai thác di sản này ai cho phép, và tại sao một nhà kinh doanh được quyền khai thác di sản này mà không phải là người khác. Đồng thời khai thác như thế này đã hợp pháp chưa, đã đúng với quan điểm của Nhà nước và cộng đồng hay chưa?”, ông Lê Quốc Vinh nói.

Dự án khôi phục kỹ thuật dệt vải “Tằm hục màn” của đồng bào Thái ở bản Hoa Tiến, tỉnh Nghệ An là sản phẩm đồng sáng tạo giữa nghệ nhân bản địa và nhà thiết kế bên ngoài cộng đồng. Ảnh: Tiến Toàn.
Đứng ở góc độ pháp lý, luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ Bross & Partners cho rằng, những quy định để phát triển kinh tế di sản không phải định vị trong một đạo luật duy nhất mà nó nằm ở giao điểm của nhiều đạo luật khác nhau như Luật Di sản văn hóa, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Quản lý tài sản công... Nếu không nhận diện đúng các lớp quyền này, di sản dễ bị giữ lại ở trạng thái “tài nguyên thô”: có giá trị văn hóa nhưng khó định giá, khó cấp quyền, khó đầu tư, khó bảo vệ và khó tạo dòng tiền bền vững. Ngược lại, nếu thương mại hóa quá nhanh, thiếu cấu trúc pháp lý và thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích, di sản cũng có thể bị “làm nghèo” đi ngay trong quá trình khai thác.
Theo luật sư Vinh, hiện nay, một số quy định của Luật Sở hữu trí tuệ đã tích hợp được tư duy bảo tồn trong Luật Di sản văn hóa nhưng chưa có nghị định hướng dẫn nên việc để phân định rõ quyền tiếp cận, khai thác và sở hữu khi sáng tạo tác phẩm dựa trên chất liệu truyền thống đang còn “rất khó”. Đồng thời, trên thế giới cũng chưa có mô hình nào thống nhất về vấn đề này, do đó Việt Nam cần xây dựng cho mình con đường riêng, trong đó các bên có thể chia sẻ lợi ích.
Từ những phân tích của mình, luật sư Lê Quang Vinh đề xuất cần bóc tách di sản thành nhiều lớp tài sản khác nhau và xây dựng mô hình vận hành thí điểm. Sau đó, có thể lập bản đồ phân hóa tài sản, chỉ định đầu mối để khai thác thương mại, xây dựng các bộ hợp đồng mẫu. Tiếp đến, cần đo mức độ tham gia của chủ thể di sản và cuối cùng mới quyết định mô hình có được nhân rộng hay không.
Với kinh nghiệm “thực chiến” và qua nhiều lần va vấp, bà Mai Linh cho rằng, không chỉ di sản nghìn năm, những di sản đang hình thành như tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ký ức về sự hy sinh của ông cha đó cũng là di sản, xứng đáng được bảo vệ, tôn vinh, được kể lại và cụ thể hóa bằng vật phẩm văn hóa. Khi một doanh nghiệp đủ tôn trọng cảm xúc của công chúng, đủ năng lực thực thi và “tử tế trong từng chi tiết” thì người dân sẽ tự nguyện đón nhận sản phẩm của họ. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là làm sao nhận rộng được những mô hình này?
“Nghị quyết 80 nói về việc biến di sản thành tài sản. Tại AnnGroup chúng tôi có thể biến cả những thứ tưởng là vô hình nhất: lòng tự hào, ký ức tập thể, tinh thần dân tộc… thành những vật phẩm cụ thể. AnnGroup sẽ làm tốt hơn rất nhiều và sẽ có hàng trăm doanh nghiệp như chúng tôi nếu như có 3 điều: thứ nhất là một khung pháp lý rõ ràng hơn cho doanh nghiệp khai thác biểu tượng di sản cộng đồng và biểu tượng quốc gia. Thứ hai cần một cơ chế hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp - không phải hỗ trợ bằng tiền mà bằng sự kết nối và công nhận. Thứ ba, quan trọng nhất, chúng tôi cần một môi trường xã hội mà thương mại hóa di sản không bị hiểu nhầm là bán di sản. Đây là rào cản tâm lý lớn, nó không thể gỡ bỏ bởi một mình doanh nghiệp mà cần sự tham gia của truyền thông, của các cơ quan quản lý và của chính người dân”, bà Linh chia sẻ.




In bài viết
