TP HCM: Từ 'năng lực mở đường' đến khát vọng thành phố toàn cầu
50 năm sau Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026), Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) không chỉ là đầu tàu kinh tế của cả nước, mà còn là nơi nhiều tư duy đổi mới được thử nghiệm, kiểm chứng và lan tỏa. Nhưng trong giai đoạn mới, Thành phố không thể chỉ hài lòng với vị thế trung tâm kinh tế nội địa. Thách thức đặt ra là phải chuyển “năng lực mở đường” thành năng lực cạnh tranh ở tầm khu vực và toàn cầu.

50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026). Ảnh: UBND TP HCM
Năng lực mở đường làm nên bản sắc TP HCM
Nhìn lại hành trình 50 năm qua (Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976-2/7/2026), TP HCM lớn lên không đơn thuần nhờ quy mô dân số, vị trí địa lý hay truyền thống thương mại. Điểm nổi bật nhất của Thành phố là “năng lực mở đường”: Dám nghĩ trước, làm trước, thử nghiệm trước và chịu trách nhiệm trước yêu cầu của thực tiễn.
Trong nhiều giai đoạn khó khăn, nhất là khi cơ chế bao cấp bộc lộ những giới hạn, TP HCM là một trong những địa phương sớm nhận ra rằng nền kinh tế không thể phát triển nếu sản xuất, lưu thông và quyền chủ động của doanh nghiệp bị bó hẹp.
Từ thực tiễn đó, Thành phố đã góp phần quan trọng vào việc hình thành tư duy đổi mới: Tôn trọng quy luật thị trường, giải phóng sức sản xuất, coi doanh nghiệp và người dân là chủ thể trung tâm của phát triển.
Bước ngoặt lớn nhất của TP HCM không chỉ nằm ở một quyết sách đơn lẻ, mà ở một phương thức tư duy: Lấy thực tiễn làm thước đo, lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn, lấy đổi mới làm động lực. Thành phố từng đi đầu trong phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp, thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng khu vực kinh tế tư nhân, phát triển dịch vụ, tài chính, logistics và mô hình đô thị hiện đại.
Có thể nói, TP HCM là một “phòng thí nghiệm chính sách” đặc biệt của cả nước. Những gì Thành phố thử nghiệm không phải lúc nào cũng thuận lợi, không phải mô hình nào cũng thành công ngay, nhưng chính tinh thần dấn thân ấy đã tạo nên bản lĩnh đô thị: không né tránh cái mới, không chờ đợi sự hoàn hảo của cơ chế mới bắt đầu hành động.

Quy mô GRDP của TP HCM đã đạt trên 3 triệu tỷ đồng, phản ánh sức nặng đặc biệt của đô thị này trong nền kinh tế Việt Nam.
Đầu tàu kinh tế phải bước lên nấc thang mới
TP HCM hiện vẫn giữ vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng một phần tư GDP quốc gia, là đầu mối lớn về thương mại, dịch vụ, tài chính, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế và đổi mới sáng tạo. Quy mô GRDP của Thành phố đã đạt trên 3 triệu tỷ đồng, phản ánh sức nặng đặc biệt của đô thị này trong nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, quy mô lớn chưa đủ để trở thành một thành phố có ảnh hưởng trong mạng lưới đô thị toàn cầu.
Một trung tâm kinh tế nội địa có thể tạo ra nhiều của cải, nhưng một thành phố toàn cầu phải làm được nhiều hơn: Kết nối dòng vốn quốc tế, thu hút nhân tài, dẫn dắt đổi mới sáng tạo, cung cấp dịch vụ chất lượng cao, có hạ tầng hiện đại, môi trường sống hấp dẫn và thể chế đủ minh bạch để các nhà đầu tư lớn tin tưởng.
Vì vậy, TP HCM đang đứng trước yêu cầu chuyển mình từ “đầu tàu quốc gia” thành “điểm nút khu vực”. Muốn vậy, Thành phố cần những quyết sách đột phá trên nhiều trục.
Trước hết là đột phá về không gian phát triển. TP HCM không thể tiếp tục phát triển theo mô hình dồn nén vào khu vực trung tâm, trong khi hạ tầng giao thông, nhà ở, môi trường và dịch vụ công chịu sức ép ngày càng lớn. Thành phố cần phát triển theo cấu trúc đa cực, gắn trung tâm tài chính - thương mại với khu công nghệ cao, cảng biển, logistics, công nghiệp hiện đại, đô thị sáng tạo và các vùng dân cư mới.
Thứ hai là hạ tầng giao thông và logistics. Với một siêu đô thị, ùn tắc không chỉ là câu chuyện đi lại mà là chi phí kinh tế. Mỗi điểm nghẽn giao thông là một phần năng suất bị mất đi; mỗi khâu logistics chậm trễ là một khoản chi phí làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, các dự án metro, vành đai, cảng biển, cảng cạn, logistics xanh, giao thông công cộng và kết nối vùng phải được coi là hạ tầng chiến lược, không phải chỉ là công trình giao thông đơn lẻ.
Thứ ba là chất lượng sống và năng lực thu hút nhân tài. Cạnh tranh giữa các đô thị châu Á ngày nay không chỉ là cạnh tranh về thuế, đất đai hay chi phí lao động, mà là cạnh tranh về môi trường sống, giáo dục, y tế, văn hóa, an toàn pháp lý và cơ hội sáng tạo. Một thành phố toàn cầu không thể chỉ có nhà cao tầng, trung tâm thương mại hay dòng vốn lớn; thành phố ấy phải là nơi người tài muốn đến, muốn ở lại và muốn cống hiến.
Thứ tư là quản trị đô thị dựa trên dữ liệu. Một siêu đô thị không thể vận hành bằng phương thức quản lý phân mảnh, thủ công, chậm phản ứng. Dữ liệu về dân cư, đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, đầu tư, doanh nghiệp, thuế và dịch vụ công phải được kết nối, chia sẻ và sử dụng cho ra quyết định. Minh bạch dữ liệu cũng là nền tảng để người dân, doanh nghiệp và báo chí giám sát chính sách hiệu quả hơn.

Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại tòa nhà số 8 Nguyễn Huệ, Phường Sài Gòn, TP HCM. Ảnh: Dũng Nguyễn
Trung tâm tài chính quốc tế: Hạ tầng mềm của hội nhập
Một trong những đột phá quan trọng nhất của TP HCM trong giai đoạn tới là hình thành Trung tâm tài chính quốc tế. Đây không chỉ là một khu vực địa lý dành cho ngân hàng, chứng khoán, quỹ đầu tư hay các định chế tài chính. Sâu xa hơn, đó là “hạ tầng mềm” để Việt Nam kết nối với chuẩn mực tài chính toàn cầu.
Một trung tâm tài chính quốc tế muốn thành công phải có ba yếu tố cốt lõi: thể chế tin cậy, thị trường đủ sâu và môi trường dịch vụ đủ chuyên nghiệp. Nhà đầu tư quốc tế không chỉ nhìn vào ưu đãi thuế hay chi phí thấp, mà quan tâm trước hết đến tính ổn định, minh bạch, có thể dự đoán của luật chơi. Họ cần một môi trường mà quyền tài sản được bảo vệ, tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, hợp đồng được tôn trọng, thông tin được công bố đầy đủ và rủi ro được kiểm soát theo chuẩn mực quốc tế. Do đó, TP HCM cần đột phá về pháp lý.
Trung tâm tài chính quốc tế phải có khung pháp lý đủ linh hoạt cho các sản phẩm tài chính mới, fintech, quỹ đầu tư, quản lý tài sản, tài chính xanh, tài sản số và giao dịch xuyên biên giới. Cần có cơ chế sandbox để thử nghiệm mô hình mới, nhưng sandbox không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, thử nghiệm phải đi cùng giới hạn rủi ro, giám sát chặt chẽ và đánh giá độc lập.
Cùng với đó là chính sách thuế cạnh tranh nhưng không cực đoan. Ưu đãi thuế không nên hiểu đơn giản là giảm thuế thật sâu, mà phải hướng vào đúng đối tượng, đúng hoạt động tạo giá trị. Chính sách thuế cần khuyến khích dịch vụ tài chính chất lượng cao, tài chính xanh, đổi mới sáng tạo, chuyên gia quốc tế và dòng vốn dài hạn; đồng thời phải tránh biến trung tâm tài chính thành nơi trú ẩn của các giao dịch thiếu minh bạch.
Điều đặc biệt quan trọng là chuẩn mực quản trị rủi ro. Trung tâm tài chính quốc tế không thể xây dựng trên nền tảng lỏng lẻo về phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng, kiểm toán, công bố thông tin và giám sát thị trường. Không có niềm tin thì không có dòng vốn dài hạn. Không có chuẩn mực thì không thể có thị trường tài chính bền vững.
TP HCM có nhiều lợi thế: Cộng đồng doanh nghiệp năng động, thị trường tiêu dùng lớn, hệ thống ngân hàng - chứng khoán phát triển, vị trí kết nối Đông Nam Bộ, cảng biển, logistics và nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhưng lợi thế chỉ trở thành năng lực cạnh tranh khi được đặt trong một khung thể chế đủ mở, đủ minh bạch và đủ an toàn.

TP HCM đã làm tròn vai trò đầu tàu kinh tế trong nhiều thập niên. Ảnh: VNHN
Nghị quyết 98 và yêu cầu giải phóng tinh thần dám làm
Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP HCM được xem như “đường ray thể chế” cho đầu tàu Thành phố. Nghị quyết này mở ra nhiều cơ chế quan trọng về đầu tư, tài chính - ngân sách, quản lý đô thị, tài nguyên, môi trường, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tổ chức bộ máy chính quyền đô thị.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không chỉ là có cơ chế đặc thù, mà là cơ chế ấy có được thực thi hiệu quả hay không. Một nghị quyết dù đúng và mạnh đến đâu cũng chỉ phát huy tác dụng khi cán bộ dám vận dụng, doanh nghiệp tin tưởng tham gia, người dân nhìn thấy lợi ích và xã hội có đủ thông tin để giám sát.
Hiện nay, một điểm nghẽn lớn của phát triển là tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, sợ bị quy kết khi xử lý vấn đề mới. Với một đô thị phải đi đầu, nếu cán bộ chỉ chọn phương án an toàn nhất cho cá nhân, Thành phố sẽ mất cơ hội. Do đó, TP HCM cần cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nhưng bảo vệ người dám làm không có nghĩa là hợp thức hóa sự tùy tiện.
Cần có tiêu chí rõ ràng để phân biệt giữa đổi mới có kiểm soát với làm sai quy định; giữa sai sót trong thử nghiệm chính sách với lợi dụng chính sách để trục lợi. Trao quyền phải đi cùng kiểm soát quyền lực; phân cấp phải đi cùng minh bạch dữ liệu; thí điểm phải đi cùng đánh giá độc lập; sáng tạo phải đi cùng kỷ luật thực thi.
TP HCM cũng cần thêm cơ chế huy động vốn dài hạn cho hạ tầng. Một siêu đô thị không thể chỉ trông chờ vào ngân sách. Thành phố cần phát triển mạnh các mô hình hợp tác công - tư, trái phiếu đô thị, quỹ đầu tư hạ tầng, khai thác quỹ đất minh bạch và cơ chế thu hồi giá trị gia tăng từ đất do hạ tầng tạo ra. Tuy nhiên, các công cụ này phải được giám sát chặt chẽ để tránh biến phát triển đô thị thành cuộc đua đầu cơ đất đai.
Bên cạnh đó, cần cơ chế đặc biệt về nhân tài. Không thể xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, đô thị sáng tạo, kinh tế số và dịch vụ chất lượng cao nếu khu vực công thiếu chuyên gia giỏi, doanh nghiệp thiếu lao động kỹ năng cao, còn người tài không tìm thấy môi trường làm việc xứng đáng. Chính sách nhân tài phải thực chất: đãi ngộ đủ cạnh tranh, giao việc đủ lớn, đánh giá theo kết quả và bảo vệ quyền sáng tạo.

Hệ thống giao thông công cộng phía Đông TP HCM. Ảnh: Đình Dư
Báo chí, công luận và sức mạnh minh bạch
Câu chuyện TP HCM không chỉ là câu chuyện kinh tế, đó còn là câu chuyện về công luận, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Một thành phố càng lớn, càng năng động, càng hội nhập thì nhu cầu thông tin công khai càng cao.
Người dân cần biết chính sách tác động đến đời sống ra sao; doanh nghiệp cần biết môi trường đầu tư có ổn định không; nhà đầu tư cần biết cam kết của chính quyền có đáng tin cậy không.
Báo chí không làm thay chính quyền, không thay doanh nghiệp ra quyết định, nhưng báo chí có thể phát hiện điểm nghẽn, lan tỏa mô hình tốt, phản biện chính sách, tạo áp lực minh bạch và nuôi dưỡng niềm tin xã hội.
Trong quá trình TP HCM triển khai Nghị quyết 98, xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế, phát triển hạ tầng và tái cấu trúc không gian đô thị, vai trò của báo chí càng quan trọng.
Một thành phố toàn cầu không thể thiếu truyền thông chuyên nghiệp và công luận lành mạnh. Khi dữ liệu về quy hoạch, đầu tư, ngân sách, tiến độ dự án, tiêu chuẩn lựa chọn nhà đầu tư và kết quả thực thi chính sách được công bố minh bạch, công luận sẽ trở thành nguồn lực hỗ trợ cải cách, chứ không chỉ là nơi phản ánh bức xúc sau cùng.
Từ đầu tàu quốc gia đến điểm nút châu Á
TP HCM đã làm tròn vai trò đầu tàu kinh tế trong nhiều thập niên. Nhưng lịch sử không trao mãi lợi thế cho những ai chỉ bằng lòng với thành công cũ.
Trong giai đoạn mới, câu hỏi không phải là Thành phố có tiếp tục lớn hay không, mà là lớn theo cách nào; không phải chỉ là tăng trưởng bao nhiêu, mà là tăng trưởng dựa trên thể chế, năng suất, đổi mới và chuẩn mực nào.
“Năng lực mở đường” từng giúp TP HCM góp phần thay đổi tư duy kinh tế của cả nước. Nay năng lực ấy phải được nâng lên thành năng lực kiến tạo một mô hình phát triển đô thị hiện đại: thể chế mở, hạ tầng thông suốt, tài chính minh bạch, quản trị dữ liệu, nhân tài hội tụ và công luận đồng hành.
Nếu làm được điều đó, TP HCM sẽ không chỉ là đầu tàu kinh tế quốc gia, mà có thể trở thành một điểm nút có trọng lượng trong mạng lưới đô thị châu Á; không chỉ là nơi tạo ra của cải, mà là nơi tạo ra chuẩn mực phát triển mới cho Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập sâu, cạnh tranh mạnh và đổi mới không ngừng.
PGS.TS Ngô Trí Long
Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam




In bài viết
