Cản trở con đi học, cha mẹ có thể bị phạt tới 3 triệu đồng
Từ 1/11, bậc tiểu học và THCS chính thức là giáo dục bắt buộc, đi kèm chế tài phạt nặng hành vi cản trở trẻ đến trường. Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý không thể phạt máy móc nếu trẻ nghỉ học do nghèo khó hay bệnh tật mà cần ưu tiên các chính sách hỗ trợ nhân văn.
Trao đổi về những thay đổi pháp lý khi giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trở thành giáo dục bắt buộc theo Nghị định 353/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/11, TS Nguyễn Hoài Nam, Trưởng khoa Luật, Trường Đại học Hoa Sen cho rằng, cần hiểu đúng mối quan hệ giữa quyền học tập và nghĩa vụ học tập để tránh quan niệm rằng Nhà nước đang thu hẹp quyền lựa chọn của trẻ em.
Giáo dục bắt buộc không có nghĩa trẻ chỉ được học trường công
TS Nam phân tích, nghĩa vụ học tập không phải vấn đề mới trong pháp luật Việt Nam. Điều 39 Hiến pháp năm 2013 và khoản 1 Điều 13 Luật Giáo dục năm 2019 đều xác định học tập vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của công dân.
Trên cơ sở đó, khoản 1 Điều 14 Luật Giáo dục năm 2019, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, có hiệu lực từ ngày 1/1 đã quy định giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc.
Vì vậy, Nghị định 353/2026/NĐ-CP không phải văn bản lần đầu tiên xác lập nghĩa vụ này, mà nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Giáo dục, tạo cơ sở cho việc tổ chức thực hiện trên thực tế.
Từ góc độ pháp lý, quyền học tập và nghĩa vụ học tập không đối lập mà bổ trợ cho nhau. Nếu quyền học tập bảo đảm mọi trẻ em có cơ hội tiếp cận giáo dục thì nghĩa vụ học tập hướng đến việc bảo đảm trẻ em hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản, tránh tình trạng bị gián đoạn hoặc mất đi cơ hội học tập do những quyết định chủ quan của người lớn.
Đáng chú ý, theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 353/2026/NĐ-CP, bên cạnh nghĩa vụ học tập của công dân trong độ tuổi quy định, Nhà nước cũng có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện để thực hiện giáo dục bắt buộc.

Một điểm cần phân biệt được TS Nam chỉ ra là nghĩa vụ hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc không đồng nghĩa với việc trẻ em chỉ được học tại trường công lập. Ảnh: NVCC
"Việc học tập mang tính bắt buộc không đồng nghĩa với việc trẻ em chỉ được học tại trường công lập, mà gia đình vẫn có thể lựa chọn cơ sở giáo dục phù hợp, miễn là đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật", TS Nam nêu.
Theo ông, bản chất của giáo dục bắt buộc không phải hạn chế quyền lựa chọn học tập, mà là thiết lập một yêu cầu giáo dục tối thiểu nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em.
Quy định này không chỉ đặt ra nghĩa vụ đối với người học và gia đình mà còn gắn với trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm mọi trẻ em có cơ hội tiếp cận và hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản.
Cố tình ngăn con đến trường, cha mẹ có thể bị phạt đến 3 triệu đồng
Một trong những vấn đề được nhiều phụ huynh quan tâm là khi giáo dục tiểu học và THCS trở thành bắt buộc, trách nhiệm pháp lý của cha mẹ, người giám hộ sẽ được xác định như thế nào.
TS Nam cho biết, bảo đảm cho con được học tập không chỉ là trách nhiệm đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý của cha mẹ, người giám hộ.
Cụ thể, khoản 1 Điều 90 Luật Giáo dục năm 2019, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, quy định cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm tạo điều kiện cho con hoặc người được giám hộ được học tập, thực hiện phổ cập giáo dục và hoàn thành giáo dục bắt buộc.
Đồng thời, khoản 2 Điều 8 Nghị định 353/2026/NĐ-CP tiếp tục xác định trách nhiệm của gia đình, người giám hộ trong việc tạo điều kiện cho các thành viên trong độ tuổi quy định hoàn thành giáo dục bắt buộc.
Như vậy, cha mẹ không thể tùy ý ngăn cản con đến trường hoặc buộc con nghỉ học vì những lý do chủ quan.

Đáng chú ý, pháp luật đã có quy định về chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền học tập của trẻ em. Ảnh: Hoài Nam
Theo TS Nam, Điều 29 Nghị định 04/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 1-2 triệu đồng đối với hành vi xúi giục người học không đi học hoặc xúi giục người học bỏ học; phạt tiền từ 2-3 triệu đồng đối với hành vi cản trở việc đi học của người học các cấp học phổ cập.
Bên cạnh đó, Điều 27 Nghị định 98/2026/NĐ-CP cũng quy định chế tài đối với các hành vi xâm phạm quyền được giáo dục của trẻ em, trong đó có hành vi cản trở việc đi học hoặc ép buộc trẻ em bỏ học.
Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý không phải mọi trường hợp trẻ nghỉ học đều đồng nghĩa với việc cha mẹ vi phạm pháp luật.
Theo nguyên tắc tại điểm đ khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm.
Do đó, cơ quan chức năng cần xác minh hành vi cụ thể của phụ huynh, nguyên nhân trẻ không đến trường, yếu tố lỗi và các điều kiện thực tế có liên quan. Việc xác định vi phạm có thể dựa trên thông tin từ nhà trường, hồ sơ theo dõi quá trình học tập, ý kiến của trẻ em, phụ huynh và kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền.
Trẻ nghỉ học vì nghèo khó, bệnh tật không thể mặc nhiên quy lỗi cho cha mẹ
Từ quy định giáo dục bắt buộc đến thực tiễn triển khai là khoảng cách cần được nhìn nhận thận trọng. Bởi không phải trẻ em nào nghỉ học cũng xuất phát từ việc cha mẹ thiếu trách nhiệm hoặc cố tình tước đi cơ hội học tập của con.
Có những em phải nghỉ học vì gia đình quá khó khăn, nhà ở xa trường, điều kiện đi lại không bảo đảm; có em mắc bệnh, khuyết tật hoặc gặp những trở ngại khách quan khiến việc đến trường không thể thực hiện như bình thường.
TS Nam cho rằng, khi thực hiện giáo dục bắt buộc, cần xem xét đầy đủ hoàn cảnh thực tế của từng trường hợp, tránh áp dụng pháp luật một cách máy móc.

Phiên toà giả định của sinh viên Đại học Hoa Sen. Ảnh: Hoài Nam
Về cơ sở pháp lý, khoản 4 Điều 4 và Điều 5 Nghị định 353/2026/NĐ-CP đặt ra nguyên tắc bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, đồng thời quy định các chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho người học hoàn thành giáo dục bắt buộc.
Đặc biệt, Điều 9 Nghị định này quy định một số trường hợp đặc thù không tính vào tổng số người khi xác định tỷ lệ hoàn thành chương trình giáo dục tại địa phương, chẳng hạn trường hợp không có khả năng học tập do tình trạng sức khỏe hoặc các trường hợp bất khả kháng theo quy định.
Theo chuyên gia, cần phân biệt rõ việc phụ huynh chủ động ngăn cản con học tập với trường hợp gia đình thực sự không có khả năng bảo đảm điều kiện đến trường.
Chẳng hạn, nếu trẻ phải nghỉ học dài ngày để điều trị bệnh hoặc không thể đến trường do thiếu điều kiện tiếp cận phù hợp với tình trạng khuyết tật thì không thể mặc nhiên xem đó là hành vi vi phạm của cha mẹ.

Ngược lại, nếu phụ huynh buộc con nghỉ học để lao động, phụ giúp gia đình trong khi vẫn có điều kiện và giải pháp phù hợp để trẻ tiếp tục học tập thì hành vi này có thể bị xem xét xử lý theo quy định pháp luật. Ảnh: Hoài Nam
"Đối với những trường hợp trẻ không thể đến trường do hoàn cảnh khách quan, cơ quan chức năng cần ưu tiên xác định nhu cầu và triển khai các biện pháp hỗ trợ phù hợp, thay vì áp dụng chế tài một cách máy móc. Chỉ khi có đủ căn cứ xác định phụ huynh thực hiện hành vi vi phạm thì mới xem xét xử phạt", TS Nam nhấn mạnh.




In bài viết
