Thước đo của độc lập là hạnh phúc của nhân dân
Độc lập dân tộc không phải là một khái niệm trừu tượng mà được đo lường bằng phẩm giá, cuộc sống ấm no và quyền phát triển toàn diện của từng con người.

Đời sống vật chất, tinh thần và mức độ thụ hưởng hạnh phúc thực sự của nhân dân chính là thước đo kiểm chứng rõ ràng nhất giá trị của nền độc lập tự do. Trong ảnh: Cột cờ Hà Nội. Ảnh: Dương Anh
Từ nhu cầu sinh tồn đến phẩm giá làm người
Trong mùa Thu cách mạng năm 1945 rực rỡ cờ hoa trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đó là khúc khải hoàn mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc, chấm dứt chế độ phong kiến và ách đô hộ của thực dân Pháp.
Đằng sau niềm hân hoan tột cùng của ngày độc lập là một hiện thực vô cùng khốc liệt do kẻ thù gây ra: Nạn đói 1944 - 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào, hơn 90% dân số mù chữ, kho bạc trống rỗng và đất nước đứng trước họa ngoại xâm bao vây tứ phía, khó khăn chồng chất khó khăn.
Chính trong bối cảnh ngặt nghèo ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập một tiêu chuẩn căn cốt để đo giá trị của nền độc lập mang ý nghĩa sâu sắc: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Sau ngày 2.9.1945, khi trả lời các nhà báo quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bộc bạch ham muốn tột bậc của đời mình: “Làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Ở thời điểm đó, “cơm ăn, áo mặc, học hành” là những đòi hỏi sinh tồn cấp bách nhất của một dân tộc vừa bước ra khỏi bóng tối nô lệ và nạn đói. Độc lập trước hết phải cứu sống con người. Tuy nhiên, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cơm ăn áo mặc chỉ là tầng bậc đầu tiên của quyền con người. Đích đến cuối cùng là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, đè nén, để mỗi cá nhân có quyền làm chủ và phát triển năng lực của mình.
Tư tưởng ấy lập tức được thể chế hóa bằng hành động cách mạng cụ thể. Chỉ một ngày sau Lễ Độc lập, ngày 3.9.1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ cấp bách: Phát động phong trào diệt giặc đói, diệt giặc dốt và chuẩn bị Tổng tuyển cử để xây dựng Hiến pháp.
Ngày 6.1.1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng nam nữ. Bản Hiến pháp 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo - đã tiếp tục thể chế hóa những nguyên tắc về quyền tự do, dân chủ và bình đẳng, khẳng định nguyên tắc nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.
Quyền con người từ một tuyên bố lý luận trong Tuyên ngôn Độc lập đã nhanh chóng được chuyển hóa thành các thiết chế pháp lý và chính sách an sinh xã hội thực tế.
Con người làm trung tâm, là mục tiêu và động lực quan trọng nhất của sự phát triển
Trải qua 81 năm lịch sử từ mùa Thu năm 1945, đất nước Việt Nam trải qua một hành trình dài từ cuộc đấu tranh giành quyền sống còn đến sự nghiệp đổi mới toàn diện, nâng cao vị thế, cơ đồ đất nước.
Sau khi giành độc lập năm 1945, những hạt gạo chống đói, manh áo ấm và lớp học bình dân học vụ xóa nạn mù chữ đã từng bước mang lại đời sống mới cho nhân dân. Và cho đến hôm nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, thước đo độc lập đã được nâng lên một tầm vóc chất lượng mới.
Kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi sự bứt phá mạnh mẽ về lực lượng sản xuất, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế toàn diện. Nhưng dù bước vào thời đại của trí tuệ nhân tạo và kinh tế tri thức, triết lý phát triển của Đảng và Nhà nước vẫn kiên định nền tảng nhân văn Hồ Chí Minh: Lấy con người làm trung tâm, là mục tiêu và động lực quan trọng nhất của sự phát triển.
Độc lập trong kỷ nguyên mới không chỉ là bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, vùng biển, vùng trời, mà còn là bảo đảm độc lập tự chủ về đường lối chính trị, kinh tế, công nghệ và văn hóa.
Về phương diện xã hội, độc lập thực chất được đo lường bằng việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền; xây dựng môi trường sống an toàn, văn minh và bảo đảm an sinh xã hội bao trùm. Đúng như tinh thần phát triển bền vững mà toàn hệ thống chính trị đang hướng tới: Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và nhất quán phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Đời sống vật chất, tinh thần và mức độ thụ hưởng hạnh phúc thực sự của nhân dân chính là thước đo kiểm chứng rõ ràng nhất giá trị của nền độc lập tự do. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 sẽ mãi mãi là lời nhắc nhở thiêng liêng đối với mọi thế hệ: Độc lập chỉ thực sự trọn vẹn và trường tồn khi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi con người được hiện thực hóa một cách trọn vẹn, sinh động trong từng nếp nhà, từng số phận người dân Việt Nam và một đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tức là mỗi nhà, mỗi người có hạnh phúc trọn vẹn.




In bài viết
