• :
  • :

Giá lúa bấp bênh, nông dân gặp khó

Dù là cây trồng chủ lực của vùng ĐBSCL nhưng lợi nhuận từ cây lúa đang ngày càng thu hẹp. Giá lúa bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao khiến nhiều nông dân rơi vào cảnh “làm nhiều, lời ít”, thậm chí chỉ mong hòa vốn để giữ nghề.

Giá lúa bấp bênh, nông dân gặp khó

Nông dân thu hoạch lúa vụ Đông Xuân tại TP Cần Thơ khi giá lúa giảm, chi phí tăng. Ảnh: Phương Anh

Lợi nhuận mỏng dần trên từng công lúa

Tại xã Lương Tâm (TP Cần Thơ), ông Nguyễn Văn Còn có hơn 40 năm gắn bó với ruộng đồng. Từ 3 công đất (1 công tương đương 1.300m2) ban đầu, ông tích góp mở rộng lên hơn 10 công, nuôi 5 con ăn học.

Tuy nhiên, những năm gần đây, đặc biệt vụ Đông Xuân 2026, hiệu quả giảm rõ rệt. Với năng suất hơn 1 tấn/công, giá 5.800 đồng/kg (lúa giống OM18), sau chi phí, ông chỉ còn lãi khoảng 3 triệu đồng.

Ông Còn cho hay, thời điểm vừa thu hoạch (ngày 20.3), lúa giống OM18 bán được 5.800 đồng/kg, nhưng hiện đã giảm còn 5.500 - 5.600 đồng/kg. Trong khi đó, trước Tết, giá từng đạt 6.300 - 6.500 đồng/kg, nghĩa là nông dân mất đi một khoản thu không nhỏ.

Điều đáng lo là trong khi giá lúa giảm, chi phí đầu vào lại tăng. Phân bón hiện tăng trung bình khoảng 100.000 đồng mỗi bao; tiền cắt lúa tăng thêm 50.000 - 70.000 đồng/công do giá dầu tăng; công dặm lúa từ mức 100.000 - 120.000 đồng/ngày đã lên khoảng 250.000 đồng/ngày.

Các khoản chi khác như xới đất khoảng 130.000 đồng/công, công chạc đất gieo sạ khoảng 70.000 đồng, chưa kể các chi phí phát sinh. Đáng chú ý, phần lớn nông dân mua vật tư theo hình thức trả chậm đến cuối vụ, nên phải chịu thêm chi phí “kê giá” khoảng 3%.

Hiện nay trung bình mỗi công lúa bán được khoảng 6 triệu đồng, chi phí đã chiếm từ 2,7 - 2,8 triệu đồng, thấp nhất cũng khoảng 2,5 triệu đồng. Chưa kể, sau vụ Đông Xuân, nhiều nông dân phải bỏ đất để tránh xâm nhập mặn, đến khoảng tháng 5 - 6 khi có mưa mới bắt đầu vụ kế tiếp, thêm 3 tháng nữa mới có thu nhập. Trong khoảng 5 tháng không có nguồn thu.

Tại An Giang, ông Phạm Công Minh cho hay, chi phí sản xuất đã tăng lên 3 - 3,5 triệu đồng/công, trong đó phân bón và thuốc chiếm tới 50 - 60%. Dù năng suất ổn định, giá lúa bấp bênh khiến nông dân không yên tâm sản xuất.

“Giờ làm ruộng cái gì cũng phải thuê, không còn lấy công làm lời như trước”, ông Minh nói.

“Nút thắt” nằm ở chuỗi giá trị

Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo năm 2026 diễn ra ngày 24.3 tại TP Cần Thơ vừa qua, nhiều ý kiến cho rằng, khó khăn của ngành lúa gạo không chỉ đến từ thị trường mà còn từ chính cấu trúc sản xuất.

Ông Trần Quốc Tuấn - Giám đốc Sở Công Thương Vĩnh Long - nhận định, ngành lúa gạo đang đối mặt “cơn gió ngược” khi các thị trường lớn như Indonesia, Philippines điều chỉnh chính sách nhập khẩu. Trong nước, chi phí logistics tăng khoảng 30%, vật tư nông nghiệp tăng 15 - 20% tiếp tục tạo áp lực lên toàn chuỗi.

Theo ông Phạm Thái Bình - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ), Việt Nam vẫn xuất khẩu 7 - 8 triệu tấn gạo mỗi năm, nên vấn đề không nằm ở thị trường mà ở khâu tổ chức sản xuất.

“Quan trọng nhất là phải gắn kết chặt giữa sản xuất và tiêu thụ thông qua vai trò doanh nghiệp. Nếu không có giải pháp dài hạn, những khó khăn cũ sẽ tiếp tục lặp lại”, ông Bình nói.

Trao đổi với Báo Lao Động, TS Trần Hữu Hiệp - chuyên gia kinh tế vùng ĐBSCL cho rằng, mỗi năm ĐBSCL cung ứng hơn 50% sản lượng lúa và trên 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước, nhưng thu nhập của nông dân vẫn chưa tương xứng. Ông chỉ ra nghịch lý khi sản lượng lớn, xuất khẩu cao nhưng giá trị gia tăng thấp.

Theo ông Hiệp, “nút thắt” lớn nhất nằm ở chuỗi giá trị khi nông dân chủ yếu bán lúa thô, đứng ở vị trí thấp nhất, trong khi phần lớn lợi nhuận rơi vào các khâu sau. Liên kết với doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thị trường xuất khẩu phụ thuộc vào một số thị trường lớn, khiến rủi ro dồn về phía người trồng lúa.

Về góc độ sản xuất, PGS.TS Lê Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên Đại Học Cần Thơ - cho rằng, mô hình trồng lúa tại ĐBSCL đã đóng góp lớn cho an ninh lương thực và xuất khẩu nhưng về lâu dài đang bộc lộ nhiều vấn đề về tính bền vững.

Theo ông Tuấn, việc thâm canh 3 vụ/năm gây áp lực lên đất và nguồn nước, làm suy giảm độ phì nhiêu, trong khi đê bao khép kín khiến phù sa bị hạn chế, buộc sản xuất phụ thuộc nhiều vào phân bón hóa học.

Ông Tuấn cũng cảnh báo nguồn nước ngày càng bất ổn do tác động của thủy điện và biến đổi khí hậu, khiến hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng, làm sản xuất lúa đối mặt nhiều rủi ro.

* Theo TS Trần Hữu Hiệp, để nông dân sống được với cây lúa, cần một cách tiếp cận tổng thể. Trước hết là tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, quy mô lớn; đồng thời phát triển chế biến sâu, xây dựng thương hiệu để nâng giá trị. Bên cạnh đó, cần có cơ chế chia sẻ rủi ro trong chuỗi giá trị, chuyển sang mô hình sản xuất “thuận thiên”, giảm hóa chất, thích ứng biến đổi khí hậu. “Muốn cứu hạt gạo, phải nhìn cả hệ sinh thái kinh tế, không chỉ riêng cây lúa”, ông Hiệp nhấn mạnh.

* PGS.TS Lê Anh Tuấn cũng cho rằng, cần chuyển từ tư duy “tăng sản lượng” sang “tối ưu hiệu quả và bền vững”. Việc áp dụng các mô hình như “1 phải, 5 giảm”, sử dụng giống chịu hạn, mặn, tăng liên kết chuỗi sẽ giúp giảm chi phí, nâng chất lượng. “Quan trọng nhất là đặt nông dân vào trung tâm. Khi thấy rõ lợi ích, họ sẽ chủ động thay đổi”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Ở tầm vĩ mô, Đề án phát triển 1 triệu hécta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL đang cho thấy hiệu quả tích cực. Sau 2 năm, diện tích thực hiện đạt hơn 354.000ha, vượt gần gấp đôi kế hoạch giai đoạn đầu. Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật giúp giảm 30 - 50% lượng giống, khoảng 30% phân bón và 2 - 3 lần phun thuốc, qua đó giảm chi phí và tăng thu nhập cho nông dân trên 13%. Đề án cũng thúc đẩy hình thành chuỗi liên kết với hơn 1.100 HTX và hơn 200 doanh nghiệp tham gia. 100% nông dân sản xuất thông qua HTX, tạo nền tảng cho sản xuất quy mô lớn, minh bạch và thuận lợi kết nối thị trường. Đáng chú ý, mức độ cơ giới hóa được nâng cao, giúp giảm chi phí lao động và nâng hiệu quả quản lý sản xuất.

Tại HTX Nông nghiệp Nghĩa Thắng (phường Mỹ Xuyên, TP Cần Thơ), nông dân sản xuất lúa ST24, ST25 theo liên kết với doanh nghiệp, được bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Nhờ áp dụng quy trình canh tác đồng bộ, giảm thuốc hóa học, năng suất đạt trên 7 tấn/ha, lợi nhuận khoảng 50 - 60 triệu đồng/ha mỗi năm. “Có doanh nghiệp bao tiêu, nông dân vừa giảm chi phí, vừa nâng cao chất lượng, lợi nhuận ổn định hơn,” ông Hứa Thành Nghĩa - Giám đốc HTX - cho biết.

Nguồn:https://laodong.vn/kinh-doanh/gia-lua-bap-benh-nong-dan-gap-kho-1678468.ldo Sao chép liên kết