• :
  • :

Từ 1/1/2027, hàng hóa được xác định xuất xứ Việt Nam theo tiêu chí nào?

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 384/2026/NĐ-CP quy định việc xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Trong đó, hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam được xác định theo tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc có hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%.

Nghị định quy định việc xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam, bao gồm hàng hóa có xuất xứ thuần túy và không thuần túy; các công đoạn gia công, chế biến đơn giản; những yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ, đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Hai trường hợp hàng hóa được xác định có xuất xứ Việt Nam

Theo Nghị định, hàng hóa được xác định có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong hai trường hợp: hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam hoặc hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam.

Đối với hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam, Nghị định quy định các trường hợp gồm cây trồng và sản phẩm từ cây trồng được trồng, thu hoạch tại Việt Nam; động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam; sản phẩm từ các động vật này; sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam.

Ngoài ra, hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam còn bao gồm khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam; sản phẩm lấy từ vùng nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải Việt Nam với điều kiện Việt Nam có quyền khai thác theo luật pháp quốc tế.

Các sản phẩm đánh bắt và hải sản khác được đánh bắt từ vùng biển cả bằng tàu đăng ký tại Việt Nam và được phép treo cờ Việt Nam cũng thuộc nhóm hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nghị định quy định trường hợp vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng tại Việt Nam không còn thực hiện được chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục và chỉ có thể vứt bỏ, sử dụng làm nguyên liệu, vật liệu thô hoặc phục vụ mục đích tái chế.

Đối với hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam, Nghị định đưa ra hai tiêu chí xác định, gồm chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc có hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%. Hàm lượng VVC được xác định theo công thức trực tiếp hoặc công thức gián tiếp. Thương nhân được lựa chọn một trong hai công thức để áp dụng trong năm tài chính.

Nghị định cũng quy định trị giá của vật liệu đóng gói và bao bì chứa đựng hàng hóa là một phần cấu thành nên hàng hóa được tính vào hàm lượng VVC.

Đáng chú ý, đối với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, các công đoạn tạo ra giá trị sản phẩm thực hiện tại Việt Nam được tính vào hàm lượng VVC, bao gồm chi phí nghiên cứu, phát triển; thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa; thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm.

Đối với quy định này, các công đoạn gia công, chế biến đơn giản quy định tại khoản 2 Điều 7 và các yếu tố không được xem xét khi xác định xuất xứ quy định tại Điều 8 của Nghị định không được áp dụng. Trong trường hợp cần thiết, các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng quy định riêng về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đối với mặt hàng có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định.

Phải lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa

Nghị định quy định thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc trên tài liệu, vật phẩm chứa đựng thông tin liên quan đến hàng hóa có trách nhiệm tuân thủ các quy định về xác định xuất xứ.

Đối với hàng hóa được xác định có xuất xứ Việt Nam, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định pháp luật về ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các quy định pháp luật khác có liên quan. Đặc biệt, thương nhân, tổ chức, cá nhân thể hiện xuất xứ Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin đã công bố; đồng thời thực hiện lưu trữ hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ hàng hóa để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.

Hồ sơ, chứng từ chứng minh xuất xứ bao gồm hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và các tài liệu khác có liên quan. Việc lưu trữ dưới dạng dữ liệu điện tử và văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán và pháp luật về lưu trữ.

Khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, thương nhân, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chứng minh hàng hóa có xuất xứ Việt Nam theo quy định tại Nghị định.

Đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước sau đó được xuất khẩu, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và quy định của nước nhập khẩu.

Nghị định số 384/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Đối với hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam theo đúng quy định pháp luật trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, hàng hóa được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hết hạn sử dụng.

Tác giả: Thanh Hà