Diễn biến vụ án hơn 4.000 chai thuốc trừ cỏ chứa chất cấm tại Gia Lai: Sở Nông nghiệp và Môi trường nêu quan điểm
Mới đây, PLVN có bài viết về sự việc cơ quan chức năng Gia Lai đang tìm hướng xử lý vụ án hơn 4.000 chai thuốc trừ cỏ có chứa chất cấm Glyphosate. Sau khi Báo đăng, Sở NN&MT đã có những ý kiến nêu quan điểm về sự việc.
Như PLVN đã phản ánh, tháng 11/2021, chủ một cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) tại tổ dân phố 11, thị trấn Phú Thiện, huyện Phú Thiện cũ (nay là xã Phú Thiện), đặt hàng ông Đặng Duy Nam (SN 1979, ngụ Đắk Lắk) số lượng lớn thuốc BVTV. Ông Nam cung cấp số tài khoản của bà Lâm Thị Hồng Thắm để bên mua chuyển tiền mua hàng. Bên mua chuyển 740 triệu đồng và được giao trước 218 thùng thuốc diệt cỏ tổng cộng 4.360 chai (mỗi thùng 20 chai, mỗi chai 900ml), gồm 84 thùng Kanup 480SL, 88 thùng Piup 480SL, 45 thùng Bravo 480SL, 1 thùng Lyphoxim 41SL. Kiểm tra 218 thùng thuốc đã giao, bên mua phát hiện thùng không nhãn mác, các chai thuốc có dấu hiệu chứa chất cấm Glyphosate nên yêu cầu ngưng giao số hàng còn lại.
Sau đó, một xe tải đến và tài xế nói lấy lại số hàng trên cho người có tên Trần Thị Nhung, nhưng không trả lại tiền, nên bên mua không đồng ý cho bốc hàng đi. Các bên gọi điện nhưng không thỏa thuận được việc trả tiền trả hàng như thế nào, nên trình báo công an.
Tháng 1/2023, Công an huyện tạm giữ toàn bộ số hàng. Tháng 6/2024, Công an huyện ra thông báo kết luận giám định cho biết chất lỏng chứa trong tất cả các chai đều tìm thấy hoạt chất Glyphosate; nhưng không khởi tố vụ án. Không đồng ý quan điểm này, tháng 8/2024, VKSND huyện Phú Thiện (nay là VKSND Khu vực 12 - Gia Lai) ra văn bản chỉ ra một số lưu ý như cần lấy lời khai các bên về giao dịch; làm rõ vấn đề trong thuốc có chứa chất không được phép sử dụng, một số lọ không ghi ngày sản xuất, một số lọ trên nhãn mác có ghi nhà sản xuất nhưng qua xác minh thực tế không có tên Cty này. Tháng 2/2025, VKSND huyện Phú Thiện ra Quyết định 01/QĐ-VKS khởi tố vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Gia Lai để điều tra.
Tháng 3/2025, Công an tỉnh tiếp nhận vụ án, phân công điều tra viên, gia hạn điều tra và đầu tháng 3/2026 có quyết định tạm đình chỉ vì hết thời hạn điều tra.
Đánh giá về sự việc, một số luật sư cho rằng có dấu hiệu của tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm theo Điều 190 BLHS. Một số loại thuốc không ghi ngày sản xuất, hoặc có ghi tên nhà sản xuất nhưng qua xác minh không có tên Cty này, là có dấu hiệu của tội Sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật theo Điều 195 BLHS. Một vấn đề khác, bên mua đã trả tiền nhưng chỉ nhận được hàng có dấu hiệu hàng giả, hàng chứa chất cấm; thì hành vi này có dấu hiệu của tội danh chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần thiết trưng cầu giám định lại để có căn cứ pháp lý xác định hàng ngàn chai thuốc trừ cỏ này có phải hàng cấm, hàng giả hay không.
Ngay từ tháng 10/2021, Sở NN&MT Gia Lai đã thông báo về việc cấm thuốc BVTV có chứa Glyphosate.
Thông tin về sự việc, ông Ngô Duy Đông, Phó Chi cục Trồng trọt & BVTV (Sở NN&MT Gia Lai) cho biết, theo Thông tư 10/2019/TT-BNNPTNT, Thông tư 06/2020/TT-BNNPTNT, các loại thuốc BVTV chứa hoạt chất Glyphosate không được sản xuất, nhập khẩu từ 9/6/2020 và chỉ được buôn bán, sử dụng đến 30/6/2021. “Việc có độ trễ từ sản xuất, nhập khẩu đến buôn bán, sử dụng là để các cơ sở kinh doanh giải quyết hàng tồn kho, hàng đã nhập”, ông Đông giải thích.
Ngay sau khi có các quy định này, Chi cục đã tham mưu Sở có các văn bản tuyên truyền, hướng dẫn cho tổ chức, cá nhân. Đồng thời, mỗi năm ít nhất 1 lần, Chi cục tổ chức tuyên truyền để cá nhân, tổ chức nắm rõ. “Sau 30/6/2021, cá nhân, tổ chức nào kinh doanh thuốc BVTV chứa Glyphosate còn lưu trữ, còn tồn kho thì phải tiêu hủy theo khoản 1, 2 Điều 74 Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật. Cá nhân, tổ chức nào mua bán, sử dụng là vi phạm pháp luật. Tùy tính chất, mức độ, số lượng vi phạm mà có thể bị phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, ông Đông khẳng định.
Cũng theo ông Đông, trong sự việc này, cần xác minh các cá nhân, tổ chức kinh doanh thuốc BVTV có các điều kiện như bằng cấp đúng chuyên môn, chứng chỉ, cửa hàng, mặt bằng, các tiêu chí khác... và có giấy phép kinh doanh; vì đây là loại hình kinh doanh có điều kiện.





In bài viết
