• :
  • :

Đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng E10: Nguồn ethanol không đáng lo, doanh nghiệp lo… bay hơi!

Thách thức lớn nhất hiện nay chưa phải là nguồn cung ethanol, thay vào đó là một yếu tố kỹ thuật khác liên quan đến sự hao hụt của xăng sinh học.

Không quá lo ngại về nguồn cung ethanol

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam sẽ đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng sinh học E10 từ ngày 1/4, sớm hơn hai tháng so với kế hoạch ban đầu.

Việc tăng tốc này được kỳ vọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng, song cũng đặt ra câu hỏi về năng lực cung ứng ethanol trong nước khi nhu cầu pha trộn xăng sinh học dự báo sẽ gia tăng mạnh trong thời gian tới.

Theo tính toán của Bộ Công Thương, tổng lượng xăng tiêu thụ tại Việt Nam năm 2025 khoảng 11,37 triệu m3. Khi chuyển sang sử dụng xăng sinh học E10, nhu cầu ethanol phục vụ pha chế ước tính khoảng 1,1 triệu m3 mỗi năm.

20251204-2.jpg

Việt Nam sẽ đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng sinh học E10 từ ngày 1/4. Ảnh: PVO

Trên thực tế, năng lực sản xuất trong nước hiện mới đáp ứng một phần nhu cầu. Việt Nam hiện có 6 nhà máy sản xuất ethanol nhưng mới khoảng một nửa số nhà máy đang hoạt động và cũng chưa vận hành hết công suất.

Nếu tất cả các nhà máy cùng hoạt động tối đa theo công suất thiết kế, tổng sản lượng có thể đạt khoảng 400.000 - 500.000 m3, tương đương khoảng 40% nhu cầu.

Như vậy, trong giai đoạn đầu triển khai lộ trình, Việt Nam vẫn cần nhập khẩu khoảng 60% ethanol từ thị trường quốc tế. Các nguồn cung lớn hiện nay chủ yếu đến từ Mỹ và Brazil, những quốc gia có sản lượng ethanol dư thừa lớn trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng cho rằng không nên quá lo ngại về khả năng thiếu hụt nguồn cung ethanol khi nhu cầu pha trộn xăng sinh học E10 gia tăng. Bởi, nếu năng lực sản xuất trong nước chưa đủ thì có thể nhập khẩu.

Liên quan đến vấn đề này, ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam chia sẻ: Nguồn nhập khẩu ethanol hiện nay của Việt Nam đến từ Mỹ và Brazil. Lộ trình vận chuyển không đi qua khu vực Trung Đông, nên hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu hiện tại.

Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, khi nhu cầu tăng thì nguồn cung sẽ có xu hướng tăng theo, đặc biệt khi nhiên liệu sinh học đang được xem là lĩnh vực có tiềm năng phát triển trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải.

Trên thực tế, cùng với việc Chính phủ đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng E10, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã bắt đầu tìm kiếm cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng ethanol, từ sản xuất, chế biến đến phân phối nguyên liệu phục vụ pha trộn nhiên liệu sinh học.

Một số nhà đầu tư đang nghiên cứu mở rộng công suất các nhà máy ethanol hiện có, đồng thời xem xét đầu tư các dự án mới gắn với nguồn nguyên liệu như sắn, ngô hoặc các phụ phẩm nông nghiệp.

Cần xác định tỷ lệ hao hụt hợp lý để đưa vào cơ cấu chi phí

Trong khi đó, ông Giang Chấn Tây, Giám đốc Công ty TNHH MTV Bội Ngọc nhấn mạnh: Việc đẩy nhanh lộ trình triển khai xăng E10 là cần thiết, phù hợp với xu hướng chuyển dịch năng lượng và góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.

“Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới còn nhiều biến động, việc thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sinh học sẽ giúp đa dạng hóa nguồn cung, nâng cao khả năng chủ động của nền kinh tế. Tuy nhiên, để quá trình triển khai đạt hiệu quả cao, các cơ quan quản lý cần tiếp tục rà soát, cân đối nguồn ethanol trong nước và nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định cho thị trường”, ông nói.

Chỉ thị 09 là ước đi chiến lược nhằm củng cố an ninh năng lượng quốc gia. Ảnh: LD

Thách thức lớn nhất hiện nay chưa phải là nguồn cung ethanol, thay vào đó là một yếu tố kỹ thuật khác liên quan đến sự hao hụt của xăng sinh học.. Ảnh: LD

Tuy nhiên, vị này cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay chưa phải là nguồn cung ethanol, thay vào đó là một yếu tố kỹ thuật khác liên quan đến sự hao hụt của xăng sinh học. Theo ông, ghi nhận trong thực tế kinh doanh xăng E5, khi tỷ lệ bay hơi của xăng E10 chắc chắn cao hơn so với xăng khoáng.

Do đó, không chỉ ông, mà nhiều doanh nghiệp khác rất cần sự phối hợp giữa Bộ Công Thương và Bộ Tài chính trong việc nghiên cứu, xác định tỷ lệ hao hụt hợp lý để đưa vào cơ cấu chi phí.

Đồng thời, cũng cần xem xét cơ chế bù đắp phù hợp đối với phần hao hụt phát sinh vượt mức thông thường, có thể lượng hóa cụ thể theo tỷ lệ (khoảng 0,6%), tương đương khoảng 180-190 đồng/lít theo mặt bằng giá hiện hành.

“Các yếu tố này nhằm bảo đảm doanh nghiệp không bị thiệt hại trong quá trình chuyển đổi”, ông Giang Chấn Tây đề xuất.

Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh xăng khoáng đang vận hành ổn định, việc chuyển sang xăng sinh học nếu phát sinh chi phí hao hụt cao hơn mà chưa có cơ chế bù đắp tương xứng sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo ông, doanh nghiệp luôn ủng hộ chủ trương phát triển nhiên liệu sinh học nhằm bảo vệ môi trường, tăng cường an ninh năng lượng và phù hợp với xu thế tiến bộ toàn cầu.

Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi diễn ra hiệu quả, rất cần một khung chính sách rõ ràng, đủ mạnh về khuyến khích và có cơ chế chia sẻ rủi ro, qua đó giúp doanh nghiệp yên tâm đầu tư và duy trì hệ thống phân phối ổn định, bền vững.

“Chủ trương phát triển nhiên liệu sinh học là đúng đắn và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp, cùng với các chính sách hỗ trợ thiết thực, việc triển khai xăng E10 sẽ đạt hiệu quả tích cực, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng xanh”, ông nói.